Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sống Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017
5 Biến Cố Lớn Trong Cuộc Đời Thánh Âu-tinh "Dân Chơi Thứ Thiệt" Một Thời
Chẳng bao giờ là quá trễ cho
một cuộc thay đổi cả…
Thánh Âu-tinh,
sống hồi thế kỷ IV dưới đế chế La Mã, với một thời trai trẻ bất trị. Quả vậy,
trước khi trưởng thành, ngài đã trải qua một giai đoạn nổi loạn. Có thể coi
ngài như là một Marlon Brando phiên bản cổ thời.
Về quãng đời sau này của mình, sau khi ngài đã nhận ra những lầm
lỗi của mình, chúng ta thấy ngài chẳng hề “kín miệng” xíu nào cả, ngài cố mô
tả, qua cuốn sách Confessions (Tự thuật) của mình, thật chi tiết về các cách
hành xử của mình. Confessions là cuốn sách đầu tiên thuộc thể loại này, một bản
tự thuật phơi bày tất cả mọi chuyện, được viết ra một cách phóng khoáng, không
câu nệ, của một nhân vật nổi tiếng về những bí mật ẩn kín và những bài học
trong đời mình. Những dữ kiện, những thông tin trong đó, được viết ra một cách
mạnh dạn, không è dè. Trong tác phẩm này, thánh Âu-tinh đã bày tỏ nỗi âu lo
rằng, ngài đã muộn màng thay cuộc đời mình, đã lãng phí quá nhiều thời giờ, và
vì ngài đã làm quá nhiều điều sai lỗi nên ngài cũng lo lắng, chẳng biết
mình có thể bù đắp, khắc phục nổi chúng nữa hay không.
Giống như thánh Âu-tinh, ai trong chúng ta cũng đều có những câu
chuyện của quá khứ đời mình cả (nhiều khi là chuyện của mới ngày hôm qua),
những câu chuyện thật khó khăn mỗi khi phải hồi tưởng lại, những chuyện đã xảy
ra trong đời mà chúng ta mong rằng, giá mà mình có cơ hội được làm lại và có
được một chọn lựa tốt đẹp hơn. Rõ ràng, tôi cũng có những câu “giá mà” như vậy
– dầu sao, tôi cũng không hề có ý định xuất bản ngay những “tự thuật” của mình
đâu.
Đôi khi, nhìn về quá khứ, chúng ta nản lòng, chẳng còn thiết gì
đến việc thay đổi trong tương lai nữa, như thể chúng ta đã đi quá xa rồi, không
thể cải tà quy chánh được nữa. Nhún vai một cái, thốt ra một câu quen quen, “Ờ
thì đó là tôi đấy, tôi chỉ muốn sống thật thôi mà”. Những lời như thế đã từng
thường trực trên môi miệng tôi, những rồi, tôi nhận ra rằng, đấy chỉ là cách
tôi bao biện để ngoan cố tiếp tục “đường xưa lối cũ” mà thôi, trong khi, thực
sự, quá khứ không bao giờ được trở nên cản ngại cho sự tiến triển của tương
lai. Một trong những lý do khiến tôi yêu mến sự tự kiểm thảo chân
thành những lầm lỗi của thánh Âu-tinh, đó là, thánh nhân cho thấy, không
bao giờ là quá muộn màng cho một sự thay đổi, để trở nên con người mà bạn muốn
cả.
Dĩ nhiên, giờ thì Âu-tinh đã là một vị thánh, thế nhưng ngài đã
thực sự từng là một con người tệ mạt đến mức nào? Ngài giống tôi, giống bạn ra
sao? Nổi loạn chống cưỡng thì ngài cũng ở mức độ kha khá đấy, còn về mặt lỗi
lầm, thì thành thực mà nói, xem ra ngài còn hơn bạn.
Một tên trộm cắp
16 tuổi, Âu-tinh và đám bạn du đãng đã hái trộm sạch sẽ một cây lê
của nhà hàng xóm rồi liệng cho heo. Đó có vẻ là một vụ trộm vặt, thế những
trong tâm tưởng của ngài, đó là một lỗi lầm trầm trọng. Vì ngài đã không ăn
những trái lê hái được, thậm chí ngài cũng chẳng đói khát gì cả, nhưng trộm cắp
chỉ vì thích thế, vậy thôi. Sau này, trong tác phẩm của mình, ngài cho biết,
liệng số lê đó đi “khiến hết thảy chúng tôi còn hả hê hơn nữa, vì đó là điều bị
cấm đoán”. Với thánh Âu-tinh, đây chính là cú “nhúng chàm” đầu tiên, khởi đầu cho
cả một chuỗi những sa đoạ ngày càng trầm trọng hơn sau đó.
Dân chơi thứ thiệt (playboy)
Tuổi thanh niên, Âu-tinh trăng hoa đến độ đồi truỵ. Ngài mô tả, từ
hồi chạc 16, “cơn mê loạn cuốn lấy tôi, tôi buông mình trong sắc dục dâm ô”.
Tình trạng này kéo dài, ngay cả trong những năm từ 30-40 tuổi, ngài vẫn còn
phải chiến đấu với thói tật ham muốn tình dục thái quá vô độ của mình. Hồi học
đại học, ngài sống chung với một người phụ nữ, và mặc dù mối dan díu này kéo
dài tới 10 năm trường, ngài đã không cưới người phụ nữ này.
Làm cha mà chưa hề lập gia đình
Quyết định của Âu-tinh không cưới nhân tình (thánh nhân không bao
giờ tiết lộ danh tánh của người đàn bà này) thậm chí, khó mà biện minh hơn, khi
ngài cho biết rằng, cô nhân tình ấy còn sinh cho ngài một cậu con trai tên là
Adeodatus. Ngài mang theo cả hai đến Rôma khi con đường sự nghiệp của ngài
thăng tiến, thế nhưng ngài vẫn không chịu kết hôn. Cô nhân tình rốt cuộc đã
phải đưa ra một quyết định khó khăn là rời bỏ ngài. “Cô ấy mạnh mẽ hơn tôi”,
ngài đã viết như thế.
Lại một nhân tình nữa
Cú sốc bị cô tình nhân và cũng là mẹ của con trai bỏ rơi, Âu-tinh
ráng “cú chót” để giải quyết cho xong mớ bùng nhùng tình ái của ngài, do vậy
một cuộc hôn nhân đã được sắp đặt với một cô gái trẻ. Vấn đề là, cô ấy còn quá
trẻ, và phải đợi 2 năm nữa mới đủ tuổi kết hôn. Trong lúc đợi chờ này, Âu-tinh
đã không đủ kiên nhẫn và đã kiếm một cô nhân tình khác. Ngài viết rằng, ngài
không “chịu được sự trì hoãn”, và “là một tên nô lệ cho sắc dục”. Thời điểm
này, ngài rơi vào tuyệt vọng, và nhận ra rằng, mình đã không thể nào phân biệt
được, đâu là đam mê xác thịt, và đâu là tình yêu thực sự.
Làm nát lòng mẹ
Tất cả những chọn lựa hoang đàng này thậm chí còn tệ hại hơn, khi
chúng ta xét đến điều này: chẳng những Âu-tinh đâm mình sống đời truỵ lạc liên
miên, nhưng những việc làm của ngài còn làm tổn thương những người xung quanh
ngài nữa, phải kể đến chính là mẹ của ngài, bà Monica. Chắc hẳn bà đã phải tan
nát cõi lòng nhiều lắm, và có lẽ nhiều lúc bà đã phải tự hỏi, mình đã làm gì
sai trái đến độ sinh ra một đứa con đàng điếm đến độ như vậy. Không thể kiểm
soát được ngài, bà chỉ cầu xin ngài, ít ra đừng quyến rũ những phụ nữ đã có gia
đình.
Bất chấp những lầm lỗi của mình, Âu-tinh sau này đã chiến thắng
được những thói tật, hủ hoá của mình. Ngài làm lành cùng mẹ và nuôi dưỡng đứa
con trai của mình.
Khi chúng ta đọc về các vị thánh như thánh Âu-tinh, thường thì
chúng ta hay có ý hướng biện minh cho các lỗi lầm của các vị, hoặc giả tảng như
các vị chẳng hề làm gì sai trái cả, nhưng như vậy là không đúng. Cuộc đời của
thánh Âu-tinh, cùng với sự trung thực trong khi nhìn nhận về mọi sự của ngài,
đã cho thấy một mẫu gương can đảm, rằng, bất chấp quá khứ lỗi lầm của chúng ta
có ra sao, bất chấp con người của chúng ta có tệ mạt và đáng ghét thế nào, bất
kể, hình mẫu mà chúng ta muốn nhắm đến có khác biệt với con người thật của
chúng ta đến cỡ nào đi nữa, thì chẳng bao giờ là quá trễ để hoán cải cả. Nếu
chúng ta quyết liệt tiến lên, thành thật, trung thực đối diện với lịch sử đời
mình, thì quá khứ sẽ chẳng thể nào ngăn cản chúng ta có được những niềm vui của
một tương lai luôn sẵn chờ.
Chuyển dịch: Hoàng Long (Nhóm phiên dịch Mai Khôi)
Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017
Tình Yêu Có Hình Thánh Giá
Yêu mà không thương sẽ coi người yêu như đồ
chơi; chơi chán thì ngán ngẫm rồi vứt bỏ. Yêu nhau mà lợi dụng nhau: trai ham
sắc, gái ham tiền (kỹ sư đào mỏ), thì khi sắc tàn, mỏ cạn, tiền kiệt, thì bye
bye: “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”.
“Tôi xin nói cho quý vị biết: tôi không thể
ngồi yên trên ngai vàng để hoàn thành nhiệm vụ làm vua một vương quốc, nếu
không có sự hỗ trợ và giúp đỡ của một phụ nữ mà tôi hằng yêu mến”. Đó là lời
tuyên bố của Vua Edward VIII trên đài phát thanh Anh quốc năm 1936, đã khiến
toàn dân nước Anh xúc động. Ông lên ngôi vua tháng 1 năm 1936 lúc 41 tuổi, chưa
vợ, và đang yêu bà Wallis Simpson, một thiếu phụ người Mỹ đã ly dị chồng. Ông
muốn cưới bà và phong làm hoàng hậu; nhưng bị hoàng gia, quốc hội và thủ tướng
chính phủ kịch liệt phản đối. Lý do: bà này là người nước ngoài, đã hai đời
chồng và ly dị, không xứng với chức hoàng hậu, là điều sỉ nhục quốc thể. Không
môn đăng hộ đối, đũa mốc lại trèo mâm son sao được ? Để đi trọn đường tình yêu,
vua Edward VIII, sau 11 tháng làm vua, đã tuyên bố thoái vị. Ông lìa bỏ quê
hương sang sống lưu vong với vợ bên nước Pháp, bình thường như mọi người dân.
Chỉ vì muốn đi theo tiếng gọi của tình yêu, ông đã đánh đổi ngai vàng và mọi
vinh sang danh vọng, để cưới và sống đời thường dân đạm bạc với vợ yêu dấu, cho
đến khi băng hà vào năm 1972. Quả thật, trái tim có những lý lẽ mà trí khôn
không thể hiểu được : đổi ngai vàng lấy tình yêu !
Vừa qua, nhiều cơn bão thổi tới, nhiều trận
lụt tràn vào, khiến biết bao ngôi nhà bị tốc mái, sụp đổ, cuốn trôi. Tuy nhiên,
không có bão tố, cuồng phong, lũ lụt nào khủng khiếp ghê rợn tai hại cho bằng
cơn bão gia đình: Tình “ông ăn chả, bà ăn nem” là tình ích kỷ. Tình “ong bướm”
là tình tắc trách và trốn chạy. Tình “ly dị” là tình bội phản hèn nhát. Những
mối tình gian trá này đã và đang phá hủy tận gốc hôn nhân và tình yêu nam nữ
cao đẹp, gây ra biết bao thảm cảnh tan nát cho nhiều gia đình.
Các bạn trẻ hãy nhớ: đời sống vợ chồng chỉ
thành công khi vượt thắng được ích kỷ bon chen. Yêu nhau là tạo hạnh phúc cho
nhau, hy sinh và kính trọng nhau. Yêu mà không kính sẽ xem người yêu như con
mồi, còn mình là thợ săn. Yêu mà không thương sẽ coi người yêu như đồ chơi;
chơi chán thì ngán ngẫm rồi vứt bỏ. Yêu nhau mà lợi dụng nhau: trai ham sắc,
gái ham tiền (kỹ sư đào mỏ), thì khi sắc tàn, mỏ cạn, tiền kiệt, thì bye bye:
“anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi”.
Yêu nhau trăm sự chẳng nề, dù trăm chỗ lệch
cũng kê cho bằng. Điều này không chỉ đúng với cựu vương Edward VIII trên đây,
mà nhất là đúng với Đức Giêsu Kitô. Ngài phận vị là Thiên Chúa, là Vua là Chúa
vũ trụ, đã không ngần ngại rời bỏ ngai vàng thiên quốc, giáng trần nhập thể làm
người nơi hang lừa máng cỏ; rồi chết nhục nhã trên thập giá (x Pl 2,6-8). Tất
cả chỉ vì yêu thương loài người tội lỗi chúng ta.
Để diễn tả tình yêu, người đời thường dùng
hình ảnh trái tim (lễ cưới, hai trái tim được lồng ghép vào nhau; có thêm mũi
tên để nói lên đau khổ vì yêu). Còn để diễn tả rõ nét cường độ và sức mạnh của
tình yêu thiêng linh, Chúa Kitô đã dùng thánh giá với một thanh dọc (mến Chúa)
kết liền với một thanh ngang (yêu người). Tình yêu có hình thánh giá, bởi vì “không có tình yêu nào cao cả hơn tình
yêu của người đã hy sinh tính mạng vì người mình yêu “(Ga 15,13); bởi vì yêu là yêu cho đến
chết, cho đến giọt máu và nước cuối cùng (x Ga 19,34). Từ cạnh sườn
bị đâm thâu, Chúa KiTô đã xây dựng Hội Thánh, cũng như từ cạnh sườn ông
Ađam ngủ say đã phát xuất bà Evà, bạn đời của ông. Thiên Chúa đã làm nên người
phụ nữ từ cạnh sườn của ông Ađam, thì sau khi tắt thở trên thánh giá Chúa Kitô
cũng đã lấy nước và máu từ cạnh sườn Người mà sinh ra Hội Thánh là tất cả chúng
ta đây: vinh quang của ta là thánh giá Chúa Kitô, nơi Ngài ơn cứu độ của ta,
sức sống của ta, phục sinh của ta. Nhờ Chúa ta được cứu độ; nhờ Chúa ta được
giải thoát.
Các bạn trẻ hãy tâm niệm: trong tình yêu và
đời sống hôn nhân, đau khổ, gian truân, thử thách, sóng gió, hy sinh, là những
điều không thể tránh khỏi; nhưng Chúa Phục sinh luôn ở đó, bên cạnh ta, trong
gia đình ta, “cứ yên tâm,
Thầy đây, đừng sợ” (Mt 14,27), để giúp ta tươi vui tiến tới trong
bình an hạnh phúc. Quả thật, ở đâu có tình yêu vĩ đại, ở đó sẽ có những điều kỳ
diệu.
Nguồn: http://gplongxuyen.org/NewsDetail.aspx?ID=20170410093110
Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017
Bình An Là Được
Sống một kiếp người, bình an
là được
Hai bánh bốn bánh, chạy được là được
Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được.
Người già người trẻ, miễn khỏe là được
Người giàu người nghèo, hòa thuận là được.
Ông xã về trễ, miễn về là được.
Bà xã càu nhàu, thương mình là được.
Tiến sĩ cũng được, bán rau cũng được
Tất cả phiền não, biết xả là được
Kiên trì cố chấp, biết quên là được
Bạn bè xa gần, nhớ nhau là được.
Không phải có tiền muốn gì cũng được
Tâm tốt việc tốt, số mệnh đổi được
Ai đúng ai sai, trời biết là được
Tích đức tu thân, kiếp sau cũng được.
Thiên địa vạn vật tùy duyên là được
Có rất nhiều việc, nhìn xa sẽ được
Nói nhiều như vậy, hiểu được là được
Vẫn còn chưa hiểu, xem lại là được.
Hai bánh bốn bánh, chạy được là được
Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được.
Người già người trẻ, miễn khỏe là được
Người giàu người nghèo, hòa thuận là được.
Ông xã về trễ, miễn về là được.
Bà xã càu nhàu, thương mình là được.
Tiến sĩ cũng được, bán rau cũng được
Tất cả phiền não, biết xả là được
Kiên trì cố chấp, biết quên là được
Bạn bè xa gần, nhớ nhau là được.
Không phải có tiền muốn gì cũng được
Tâm tốt việc tốt, số mệnh đổi được
Ai đúng ai sai, trời biết là được
Tích đức tu thân, kiếp sau cũng được.
Thiên địa vạn vật tùy duyên là được
Có rất nhiều việc, nhìn xa sẽ được
Nói nhiều như vậy, hiểu được là được
Vẫn còn chưa hiểu, xem lại là được.
(sưu tầm)
Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017
Phát triển Ơn gọi Truyền giáo trong một giáo xứ
Làm thế nào để phát
triển ơn gọi truyền giáo trong một giáo xứ là mối bận tâm đang được đặt ra cho
công cuộc loan báo Tin Mừng hôm nay. Việc phát triển này nói lên vai trò đặc biệt
quan trọng của mỗi giáo xứ có ảnh hưởng sâu rộng đối với sứ vụ truyền giáo của
Giáo Hội. Do đó, giáo xứ trở thành hạt nhân cơ bản giúp phát triển ơn gọi truyền
giáo cách hiệu quả và bền vững. Là thành viên của từng xứ họ nhất định, người
Kitô hữu ngày càng ý thức thâm sâu hơn ơn gọi của mình nhờ việc khám phá và làm
triển nở các giá trị Tin Mừng trong hoàn cảnh và môi trường sống đặc thù tại
nơi mình đang sinh sống. Đây là yêu cầu cấp thiết đòi hỏi sự tâm huyết và khôn
ngoan của các mục tử và cộng đồng tín hữu nói chung. Nhờ đó, tương quan Đức ái
không chỉ biểu tỏ trong nội bộ từng giáo xứ nhất định mà còn hướng tới việc cố
kết ngày càng khăng khít hơn với các cộng đồng lương dân trên cơ sở tôn trọng,
đối thoại và hiệp nhất.
1. Giáo xứ, hạt nhân
phát triển ơn gọi truyền giáo
Như đã đề cập, giáo xứ
là hạt nhân cơ bản để phát triển ơn gọi truyền giáo. Mọi định hướng, chương
trình cụ thể mang tính vĩ mô liên quan đến việc xúc tiến công cuộc truyền giáo
nếu không được triển khai bước đầu từ mỗi giáo xứ thì e rằng khó có thể đạt được
những kết quả khả quan. Do đó, giáo xứ trở thành địa bàn lý tưởng nhất để khơi
dậy và phát triển ơn gọi truyền giáo vốn tiềm tàng và phong phú từ chính
tâm hồn của mỗi Kitô hữu. Dù có những đặc thù, mỗi giáo xứ đều hội tụ những khả
năng cần thiết nhằm thúc đẩy việc truyền giáo. Vấn đề là là làm sao để phát hiện
và vận dụng những khả năng ấy. Trên thực tế, tại các giáo xứ ở Việt Nam nói
chung, hướng phát triển này còn rất hạn chế do bị chi phối bởi những điều kiện,
hoàn cảnh khác nhau. Chúng ta có thể nhận ra một thực trạng, đó là, hoạt động
truyền giáo tại các giáo xứ chưa thoát ra khỏi những đường hướng truyền thống
kém hiệu quả, còn mang tính hình thức và khép kín, nặng về số lượng… Yếu tố con
người chưa được đề cao, nhất là ơn gọi truyền giáo chưa được khơi dậy cách đúng
mức.
Để phát triển ơn gọi
truyền giáo trong một giáo xứ, linh mục quản xứ và cộng đoàn tín hữu cần hoạch
định một kế hoạch toàn diện, trong đó việc phát triển nhân bản và làm sáng tỏ
gương mặt đích thực của Đức Kitô là sứ vụ căn yếu nhất. Phải làm sao tạo cho
môi trường giáo xứ thành một cộng đồng sinh động, mang đậm bản sắc liên đới vị
tha là giá trị nền tảng của Tin Mừng.
2. Định hướng phát
triển
2.1. Gây ý thức ơn gọi
truyền giáo
Đây là điều cần làm
trước hết của người mục tử khi đến nhận lãnh nhiệm sở. Bởi mọi định hướng liên
quan đến hoạt động truyền giáo sẽ không đạt hiệu quả mong muốn nếu không gây được
ý thức về ơn gọi truyền giáo. Do đó, cha sở phải biết cách tạo lập nơi người
giáo dân tinh thần xả kỷ, sẵn sàng tận hiến cho hoạt động tông đồ.
Gây ý thức ơn gọi
truyền giáo được được thực hiện qua việc tác động cách toàn diện sâu rộng trên
mọi sinh hoạt tâm linh và đời sống xã hội thường nhật của của người giáo dân,
phải làm sao đưa họ “trở lại với Đức Kitô, cởi bỏ hết mọi ý thức hệ, mọi
quan niệm thần học hoài nghi, cả chính mình, mà theo Đức Kitô trong sứ mệnh của
Ngài: “Không thể mời gọi người khác trở lại nếu chính chúng ta không trở lại mỗi
ngày” (Sứ mệnh…, 47) (Felipe Gómez, SJ, Truyền giáo học
1, Antôn & Đuốc sáng, tr. 173). Những tác động này luôn được đặt dưới
ánh sáng Lời Chúa với Đức ái Kitô giáo làm kim chỉ nam cho mọi ý tưởng hướng tới
sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Việc gây ý thức về ơn
gọi truyền giáo là một tiến trình đầy khó khăn nhưng đó là bước chuẩn bị có
tính quyết định đối với một giáo xứ trong sứ vụ truyền giáo nói
chung.
2.2. Phát triển đội
ngũ truyền giáo
Một khi đã gây được ý
thức truyền giáo, hay nói cách khác đã tạo lập được “tinh thần truyền giáo” mạnh
mẽ, giáo xứ sẽ gặp được lợi thế cho bước tiếp theo là phát triển đội ngũ truyền
giáo. Có thể nói, ơn gọi truyền giáo tại mỗi giáo xứ có biểu hiện sinh động và
bừng phát mạnh mẽ hay không cần phải kể đến đội ngũ truyền giáo tại giáo xứ ấy
phát triển tới mức độ nào. Do đó, việc xây dựng đội ngũ truyền giáo là yêu cầu
cấp thiết giúp cho hoạt động truyền giáo trong giáo xứ được phát triển có hệ thống
trên nền tảng liên đới.
Đội ngũ truyền giáo
được quy tụ trên cơ sở lòng tự nguyện của người giáo dân, làm sao cho họ ý thức
được trách vụ cao cả khi quên mình dấn thân xây dựng giáo xứ thành cộng đoàn
truyền giáo năng động.
Cha xứ là người tiên
phong trong đội ngũ truyền giáo của giáo xứ. Ngài là người chủ động hoạch định
mọi chương trình liên quan đến việc phát triển ơn gọi truyền giáo trong giáo xứ,
đồng thời nỗ lực tạo điều kiện cho hoạt động truyền giáo tại nhiệm sở của mình
đạt hiệu quả nhất.
Hội đồng mục vụ, các
ban - ngành, đoàn thể là những nòng cốt của đội ngũ truyền giáo trong một giáo
xứ. Do đó, các đối tượng này được xây dựng, phát triển song song cả về lượng và
chất. Về lượng: phải làm sao cho số thành viên tự nguyện tham gia các ban,
ngành, hội đoàn ngày càng đông đảo, đủ mọi lửa tuổi, trình độ học vấn... Về chất:
thành viên tham gia đội ngũ truyền giáo chính thức của giáo xứ phải là các đối
tượng giàu nhiệt huyết tông đồ, biết dấn thân cho lợi ích chung của cộng đoàn
giáo xứ và mọi người. Do đó, việc đào luyện “tinh thần truyền giáo” cho đội ngũ
truyền giáo là mục tiêu quan trọng xuyên suốt hoạt động truyền giáo.
Cha xứ thường xuyên tổ
chức các lớp huấn luyện về kỹ năng chuyên môn cho đội ngũ truyền giáo của giáo
xứ đã được thiết lập. Các lớp học này do chính cha xứ trực tiếp hướng dẫn hoặc
do các chuyên gia có chuyên môn, kinh nghiệm về hoạt động đoàn thể Công giáo được
mời đến chia sẻ.
Giáo xứ cần đầu tư và
tạo những điều kiện cần thiết cho các hội đoàn có linh đạo truyền giáo dễ thích
nghi với môi trường truyền giáo của giáo xứ như: Hội Têrêxa, Gia đình Khôi
Bình, Gia đình Thánh Tâm, Hội Lêgiô...
Cha xứ thường xuyên tổ
chức tĩnh tâm định kỳ cho các ban, ngành, đoàn thể vào các dịp quan trọng có
liên quan đến những sự kiện truyền giáo của Giáo Hội: Ngày Quốc tế Truyền giáo,
Ngày Quốc tế Bệnh nhân…Chủ đề tĩnh tâm cần tập trung nhắm tới ơn gọi truyền
giáo, khích lệ và kêu mời các thành viên trong đội ngũ truyền giáo nòng cốt của
giáo xứ hãy dấn thân bằng cả tâm huyết cho việc loan báo Tin Mừng. Cha xứ cần tận
dụng các kỳ tĩnh tâm cho các hội đoàn để hâm nóng tinh thần truyền giáo, bầu
khí liên đới trong hoạt động truyền giáo giữa các thành viên này, thúc đẩy và
nâng đỡ họ vượt qua mọi khó khăn khi phải đối diện với lợi ích riêng tư của gia
đình và của cộng đoàn.
Trong tương quan ơn gọi
truyền giáo nói chung, cha xứ không ngừng nỗ lực kêu gọi, khích lệ về tinh thần,
vật chất để nâng đỡ ơn gọi truyền giáo, đặc biệt là ơn gọi linh mục, tu sỹ nơi
những người trẻ trong giáo xứ - Đây là những hạt mầm Đức tin sẽ triển nở và
giúp cho mảnh đất truyền giáo tại mỗi giáo xứ ngày càng màu mỡ, phong phú và dồi
dào hơn. Không chỉ trên tòa giảng, cha xứ nên thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ thân
tình với các bạn trẻ trong giáo xứ về ơn gọi và thao thức loan báo Tin Mừng
trong thời đại hôm nay. Qua những buổi gặp gỡ này, cha xứ sẽ là người đồng hành
cùng các em trong việc tháo gỡ những khúc mắc, khó khăn và tạo điều kiện cho
các em được phát triển lý tưởng cao đẹp nơi mình, là trở thành tông đồ mẫu mực
của Chúa Kitô, hết lòng phục vụ những người nghèo khổ nhất.
2.3. Phát triển ơn gọi
truyền giáo trong giáo xứ qua đời sống thực tiễn
Để phát triển ơn gọi
truyền giáo trong giáo xứ, ngoài các yếu tố đã nêu trên thì việc sống “tinh thần
truyền giáo” qua đời sống thực tiễn là yêu cầu quan trọng nhất nhằm đem lại hiệu
quả tích cực cho hoạt động truyền giáo của mỗi giáo xứ.
1o Chứng
nhân sống niềm tin
Phát triển ơn gọi
truyền giáo ở khía cạnh này được bắt đầu từ mỗi cá nhân và gia đình trong giáo
xứ. Cha xứ, Hội đồng mục vụ giáo xứ, đội ngũ giáo lý viên tích cực chăm lo nuôi
dưỡng đời sống Đức tin của của người giáo dân và định hướng cho họ sống tốt vai
trò tông đồ qua những hoạt động thực tiễn thường ngày.
Kêu mời và tạo điều
kiện cho mọi gia đình trong giáo xứ trở thành điểm sáng như những “Gia đình
Nazareth nhỏ” biết tận tâm phục vụ lợi ích những người xung quanh. Quy tụ
các bậc làm cha mẹ vào các hội đoàn của giáo xứ như Hội Giuse, Hội Các Bà Mẹ
Công Giáo…Thông qua các Hội này, cha xứ thường xuyên tiếp xúc, chia sẻ và thúc
đẩy các hội viên hãy trở nên những mẫu mực tuyệt hảo cho con cái trong việc sống
ơn gọi truyền giáo. Chính các bậc cha mẹ là những tông đồ giáo dân đắc lực khi
tham gia các hoạt động truyền giáo của giáo xứ. Cha xứ cũng thường xuyên chia sẻ
và gợi mở cho những người làm cha mẹ những đường hướng tâm linh giúp họ trở nên
điển chứng Tin Mừng giữa “chợ đời”.
Các ban - ngành, đoàn
thể của giáo xứ là những trung gian giữa cha xứ và các gia đình. Trong trường hợp
gia đình nào xẩy ra bất hòa bất thuận nội bộ hay với những người lương dân thì
cha xứ và các đại diện của các đoàn thể sẽ trực tiếp giải hòa và nối lại dây
liên đới giữa các bên liên quan.
Thông qua các lớp
giáo lý thuộc Khối Vào Đời và Tiền Hôn Nhân, cha xứ và các giáo lý viên cần gợi
mở và tạo cho các học viên ý thức được vai trò chứng nhân của “phía” Công giáo
khi được mời gọi “nên duyên” cùng người bạn đời không chung niềm tin với
mình.
2o Chủ
động đối thoại
Cha xứ và cộng đoàn
giáo xứ chủ động trong việc đối thoại với bà con lương dân và những người theo
các tôn giáo khác cùng sinh sống ngay trên địa bàn giáo xứ cũng như các cộng đồng
phụ cận. Tinh thần truyền giáo chỉ có thể lan tỏa khi mỗi thành viên trong giáo
xứ biết cởi mở, tôn trọng những khác biệt đối với anh chị em không cùng niềm
tin với mình. Do đó, để có thể phát triển ơn gọi truyền giáo, cha xứ và Hội đồng
mục vụ giáo xứ cần định ra những hình thức đối thoại nhằm củng cố và siết chặt
tình liên đới giữa cộng đoàn của mình với các cộng đồng xung quanh.
Tôn trọng những khác
biệt: cha xứ thường xuyên nhắc nhở bà con giáo dân không nên có thái độ thành
kiến trước những dị biệt trong văn hóa ứng xử của bà con lương dân xung quanh,
nhưng thấy được giá trị nhân văn ẩn tàng trong lối sống, cách sống của họ. Tuyệt
đối tránh những cuộc cãi cọ, tranh luận vô bổ về quan điểm tín ngưỡng, tôn giáo
hay hệ tư tưởng giữa những người có đạo với những người lương dân.
3o Nhịp
cầu tâm giao
Những định hướng trên
chỉ có thể trở thành hiện thực khi cộng đoàn giáo xứ biết chủ động bắc những
“nhịp cầu tâm giao”. Nhịp cầu này được khởi phát từ con tim đã thấm nhuần Đức
ái Kitô giáo, biết chia sẻ yêu thương với hết mọi người.
Để nhịp cầu tâm giao
được thông suốt, mọi thành viên trong xứ cần xóa bỏ mọi dị nghị, ác cảm với anh
chị em lương dân xung quanh. Cha xứ và những người hữu trách của giáo xứ là những
người đi bước trước để khai thông những bế tắc làm cản trở tình thân hữu giáo
lương.
Về giao thông:
phối hợp làm những trục lộ chung giữa hai làng giáo – lương nhằm tạo thuận lợi
cho việc giao lưu gặp gỡ được dễ dàng, thuận tiện.
Về giải trí:
giáo xứ nên tổ chức các sân chơi chung: sân bóng chuyền, bóng đá…, và tạo điều
kiện đón tiếp bà con, nhất là các bạn trẻ từ các làng lương lân cận đến cùng
giao hữu thường xuyên tại các sân chơi này. Tùy điều kiện cho phép, các sân
chơi có thể đặt tại một địa điểm nhất định trên địa bàn giáo xứ, tốt nhất là gần
nhà thờ xứ .
Về giáo dục:
giáo xứ mở các lớp học phụ đạo về văn hóa tại trường giáo lý của giáo xứ và cho
các em học sinh lương dân đến tham dự các lớp học này. Các em không chỉ được
nâng cao về trình độ văn hóa mà còn có cơ hội tiếp xúc để hiểu biết nhau hơn.
Vào các dịp đại lễ
như Noel, Tết Nguyên đán…, các gia đình, nhất là các bạn trẻ trong giáo xứ tổ
chức mời các gia đình nhất là các bạn trẻ lương dân đến tham dự các chương
trình canh thức, họp mặt đầu xuân và dự tiệc vui thân mật. Nếu được, giáo xứ
nên cho phép bạn bè lương dân được tham gia các tiết mục hoạt cảnh, ca hát giàu
tính nhân văn và chia sẻ những cảm nghiệm riêng tư liên quan đến đời sống tâm
linh và triết lý nhân sinh.
Để nhịp cầu tâm giao
ngày càng bền vững hơn, giáo xứ cần tổ chức các nhóm tình nguyện viên, các đội
cứu trợ của giáo xứ thường xuyên tham gia các hoạt động thăm hỏi, cứu trợ các
gia đình, cá nhân tại các làng lương bị đau nặng, gặp tai ương, hoạn nạn.
4o Hoạt
động từ thiện – bác ái
Để phát triển ơn gọi
truyền giáo trong giáo xứ, việc xúc tiến và đẩy mạnh hoạt động từ thiện – bác
ái được coi là đòi hỏi đặc biệt cần thiết cho hành vi “sống đức tin” trong sứ vụ
truyền giáo. Do vậy, giáo xứ cần phải đặt hoạt động từ thiện – bác ái làm tiêu
chí hàng đầu cho thành công của hoạt động truyền giáo.
Muốn hoạt động từ thiện
bác ái thành công, giáo xứ cần có chương trình đào luyện “tinh thần truyền
giáo” cho đội ngũ truyền giáo như đã nêu trên. Đội ngũ này không chỉ năng động
trong công tác mà luôn chứng tỏ được phẩm tính của người môn đệ Chúa Kitô, biết
quên mình vì hạnh phúc của người khác.
Thành lập Quỹ bác ái:
kêu gọi mọi người trong giáo xứ hãy bỏ những “đồng xu bà góa nghèo” vào quỹ bác
ái của giáo xứ với tinh thần “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Quỹ này do Ban Bác
Ái – Caritas nắm giữ.
Kêu gọi các gia đình
khá giả, các nhà hảo tâm trong giáo xứ nâng đỡ cách đặc biệt cho những
gia đình, cá nhân đang lâm vào hoàn cảnh quá bi đát do nghèo túng, bệnh tật.
Hoạt động từ thiện –
bác ái được mở rộng đến các đối tượng không phân biệt lương giáo: các gia
đình nghèo, người đau ốm, neo đơn, học sinh nghèo vượt khó…
Các ban – ngành, đoàn
thể của giáo xứ, đặc biệt là Ban Bác Ái lập danh sách cụ thể các đối tượng giáo
dân cũng như lương dân cần được quan tâm thăm hỏi, chăm sóc, cưu mang trong điều
kiện có thể. Đối với những người già yếu neo đơn, giáo xứ nên cắt cử hoặc mời gọi
những người thiện nguyện trong cộng đoàn đến chăm sóc, lo lắng thuốc men và các
nhu cầu cần thiết khác cho họ. Giáo xứ có thể xây sẵn vài ba căn hộ nhỏ trên
vùng đất thuộc giáo xứ và ưu tiên mời những người neo đơn không có nhà cửa đến ở
tại căn hộ này. Đối với những trường hợp gặp rủi ro, hoạn nạn, mất mát về tinh
thần, các ban ngành, đoàn thể của giáo xứ đến động viên, khích lệ và nâng đỡ họ
bằng tinh thần hay vật chất, giúp họ sớm vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống.
Khi có người trong
giáo xứ hay bà con lương dân sống trên địa bàn giáo xứ và những vùng phụ cận
qua đời, cha xứ và các ban ngành đoàn thể kịp thời đến phân ưu, cầu nguyện,
giúp đỡ tang quyến.
Công tác từ thiện –
bác ái của giáo xứ không đơn thuần chú trọng việc trao ban vật chất, mà còn hơn
thế nữa, các thành viên trong giáo xứ khi tham gia hoạt động này được hướng tới
việc biểu tỏ gương mặt đích thực của Đức Kitô biết “chạnh lòng thương” những ai
bé mọn, yếu đuối, bần cùng.
5o Cùng
tham gia hoạt động công ích và phát triển nhân bản
Cha xứ và các ban
ngành đoàn thể phát động, cổ vũ bà con giáo dân cùng với anh chị em lương dân
tham gia các hoạt động công ích: bảo vệ môi trường, bài trừ tệ nạn xã hội, xây
dựng các công trình phúc lợi chung nhằm phục vụ đồng thời cho cả bà con giáo
dân và lương dân đang sinh sống trên địa bàn giáo xứ. Chúa nhật hàng tuần, cha
xứ kêu gọi các em trong Hội Têrêxa, Hội Thiếu Nhi Thánh Thể cùng với các bạn trẻ
lương dân tham gia thu gom rác thải và làm vệ sinh các trục đường công cộng…
Trên tinh thần cùng
nhau xây dựng, phát triển, mọi thành viên trong giáo xứ có trách nhiệm liên đới
với cộng đồng lương dân và những những người theo tôn giáo khác trong những vấn
đề có liên quan đến phẩm giá và quyền lợi chính đáng của con người.
Giáo xứ kêu mời và
phát động các bạn trẻ trong giáo xứ tham gia các nhóm bảo vệ sự sống của giáo xứ,
giáo phận hay liên giáo phận. Cha xứ thường xuyên tổ chức các cuộc nói chuyện với
các bạn trẻ về tác hại của phá thai theo nhãn quan luân lý; khích lệ và tạo điều
kiện cho họ trở nên chứng nhân đắc lực bảo vệ sự sống, bảo vệ các quyền căn bản
của con người.
Kết luận
Phát triển ơn gọi
truyền giáo trong giáo xứ là yêu cầu cấp thiết cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Vấn
đề này đòi hỏi sự nỗ lực và dấn thân cao độ của mọi thành phần dân Chúa tại mỗi
giáo xứ nhất định. “Tinh thần truyền giáo” không chỉ biểu tỏ và giới hạn trong
các nhóm, các hoạt động mang tính hình thức nhỏ lẻ. Trên hết, ơn gọi truyền
giáo là một hồng ân và được khởi đi từ chính con tim tràn đầy yêu thương của Đức
Kitô. Do vậy, để giáo xứ thực sự trở thành điểm sáng của đời sống chứng nhân
Tin Mừng, các tín hữu được mời gọi bước theo Đức Kitô trên hành trình thứ tha,
chia sẻ, nhất là biết chấp nhận những thiệt thòi, để qua đó, mọi người nhận ra
cộng đoàn Đức tin sinh động đang hiện tỏ giữa lòng thế giới hôm nay.
Tháng 06/2011
J.B. Nguyễn Quốc Tuấn
Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016
Về Việc An Táng Cho Người Dự Tòng và Trẻ Em Chết Trước Khi Được Rửa Tội
Nhân việc có nơi giáo quyền địa phương đã không
cho cử hành lễ an táng và không cho chôn xác người tự tử trong nghĩa trang họ Đạo,
tôi xin nói lại một lần nữa là không có giáo lý, giáo luật nào của Giáo Hội cấm
việc chôn xác người tự tử trong nghĩa trang Công Giáo.
Lý do là mặc dù Giáo Hội lên án hành vi tự tử,
nhưng không đưa ra phán quyết là người tự tử đã xuống hỏa ngục nên không cần cầu
nguyện cho nữa.Chỉ một mình Chúa biết và phán quyết phần rỗi của người tự tử mà
thôi Như vậy, không có lý do gì để cấm việc cử hành tang lễ và mai táng người tự
tử trong nghĩa trang của họ đạo. Trước Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội cấm việc
này vì lý do lên án hành vi tự tử, chứ không vì cho rằng người tự tử đã mất
linh hồn trong hỏa ngục.
Tiện đây, Cũng xin được nói thêm về trường hợp
người dự tòng đang học giáo lý để được rửa tội , nhưng chẳng may đã chết trước
khi được rửa tội- kể cả các em bé chết không được rủa tội- thì phải đối xử ra
sao?
I- Trước hết về những người dự tòng (catechumens):
Họ là những người đang tìm hiểu đức tin và đang
được học giáo lý để chuẩn bị nhận lãnh 3 bí tích quan trọng là rửa tội, thêm sức
và Thánh Thể sau khi hoàn tất chương trình khai tâm nhập Đạo (RICA).
Như thế, qua tiến trình này người dự tòng đang khao
khát được gia nhập Giáo Hội qua ơn tái sinh của phép rửa. Nghĩa là họ đã sẵn
sàng để nhận lãnh bí tích khai tâm này để trở nên con cái của Thiên Chúa như
giáo lý Giáo Hội dạy.
Nhưng chẳng may có ai trong số dự tòng này đã chết
mà không kịp được rửa tội thì giáo lý của Giáo Hội dạy như sau:
“Đối với người dự tòng chết khi chưa được rửa tội,
thì lòng ao ước tỏ tường được rửa tội và sự sám hối tội lỗi cùng với đức ái của
họ sẽ bảo đảm ơn cứu độ cho họ, ơn cứu độ mà họ không thể nhận lãnh nhờ bí tích
Rửa tội” (x. SGLGHCG số 1259)
Giáo lý trên cũng áp dụng cho những người chết vì
đức tin nhưng chưa được rửa tội thì cũng “được coi là đã được rửa tội do sự chết
của họ vì Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Phép rửa tội bằng máu này , cũng như phép
rửa tội bằng ao ước, tuy không là bí tích, nhưng cũng mang lại tất cả hoa trái
của phép Rửa tội.” (Sđd số 1258)
Do đó, theo giáo luật số 1183, triệt 1 thì những
người nói trên được đồng hóa với người Ki tô Hữu trong việc an táng. Có nghĩa
là phải cử hành nghi thức an táng cho họ như mọi tín hữu đã được rửa tội và qua
đời.
Sở dĩ phải đối xử với họ như vậy, là vì dù họ
không được rửa tội đúng theo nghi thức nhưng vì họ có lòng ao ước lãnh nhận bí
tích này, nhất là được chết vì đức tin thì dù chưa được rửa tội họ cũng được
coi như mọi tín hữu đã được rửa tội, và do đó Giáo Hội vẫn dành nghi thức an
táng cho họ như giáo luật nêu trên đã qui định.
II- Về các trể em chết mà không được rửa tội, giáo lý Giáo Hội cũng dạy như sau:
“Giáo Hội chỉ còn biết phó thác các em cho lượng từ bi của Thiên Chúa như Giáo Hội làm khi cử hành lễ an táng cho các em.Thiên Chúa nhân từ vô cùng muốn tất cả mọi người được cứu độ.(1Tm 2:4) và lòng âu yếm mà Chúa Giêsu đã dành cho các trẻ nhỏ khiến Người đã nói : “Hãy để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng.” (Mc 10 :14). Điều này cho phép chúng ta hy vọng có một con đường ơn cứu độ cho các trẻ em chết khi chưa được rửa tội.Nhân đây, Giáo Hội cũng khẩn thiết kêu gọi đừng cản trở cho các em đến với Chúa Kitô qua hồng ân của Phép Rửa. (x.SGLGHCG số 1261)
Dựa vào giáo lý trên đây, giáo luật số 1183, triệt
2 cũng khuyến cáo như sau:
“Bản quyền sở tại (Giáo quyền địa phương) có thể
ban phép cử hành an táng theo nghi thức Giáo Hội cho các trẻ em mà cha mẹ có ý
rửa tội nhưng đã chết trước khi được rửa tội.”
Nghĩa là không ngăn cấm cử hành an táng cho các
trẻ em chết mà chưa được rửa tội.
Cũng vì lợi ích thiêng liêng lớn lao của Phép Rửa
mà giáo lý nêu trên đã ân cần nhắc nhở cha mẹ phải mau mắn lo cho các con cái
mình được lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy (rửa tôi) càng sớm càng tốt. Đặc biệt
trong trường họp nguy tử, không tìm được linh mục hay phó tế thì cha mẹ có bổn
phận rửa tội cho con mình trong cơn nguy tử đó với công thức Chúa Ba Ngôi và
dùng nước đổ trên đầu hay trán của trẻ em.
Tóm lại, dù người Dự tòng hay trẻ em chết trước
khi được rủa tội thì Giáo Hội vẫn dạy phải dành cho họ nghi thức an táng như mọi
giáo hữu khác.Nghĩa là không ai có biết hay thể phán đoán gì về số phận đời đời
của họ, nên chỉ biết phó thác họ cho lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa là
Cha cực tốt cực lành mà thôi.
Lai nữa, riêng các thai nhi bị giết vì phá thai
(abortion), không có luật nào buộc phải xin lễ cầu cho các thai nhi này. Chúng
chưa được sinh ra, và bị giết vì những người không tôn trọng sự sống, nên những
người trục tiếp hay gián tiệp giúp cho việc phá thai được thành tựu mới là kẻ
có tội và bị Giáo Hội phạt vạ tuyệt thông tiền kết, dành riêng cho Đức Thánh
Cha quyền tháo gỡ.(x.giáo luật số 1398). Nhưng Đức Thánh Cha Phan xicô đã cho
phép các linh mục trong toàn Giáo Hội từ nay được phép tha tội này vì lòng
thương xót của Chúa.
Các trẻ em vô tội này bị giết vì phá thai, tức là
chết từ trong lòng mẹ, nên không được rửa tội như các trẻ đã sinh ra và được
cha mẹ lo cho lãnh nhận phép rửa. Nhưng không cần phải xin lễ cầu cho chúng, vì
Chúa nhân từ chắc chắn sẽ không bắt lỗi chúng vì đã không được rửa tội.Lỗi này
hoàn toàn của người phá thai, chứ không phải của thai nhi.Vậy, không cần cầu
nguyện hay xin lễ cầu cho các thai nhi này, vì chắc chắn Chúa đã đoái thương
đón nhạn chúng vào Nước Trời.
Các linh mục cần giải thích rõ việc này cho giáo
dân để đừng nhận tiền xin lễ cầu cho các thai nhi., như người ta đang làm ở các
giáo xứ Viêt Nam.












